Chuyển đến nội dung chính

Manipur – Wikipedia tiếng Việt


Manipur là một bang tại miền Đông Bắc Ấn Độ. Thủ phủ là thành phố Imphal.[6] Nó tiếp giáp với Nagaland về phía bắc, Mizoram về phía nam, và Assam về phía tây; Myanmar nằm về phía đông. Bang có diện tích 22.327 kilômét vuông (8.621 sq mi) và dân số chưa đến 3 triệu người, gồm chủ yếu người Meitei; người Kuki, người Naga, và người Pangal là những dân tộc khác tại đây, tất cả đều nói các ngôn ngữ Hán-Tạng. Manipur đã là nơi tiếp nối cho sự giao thương hàng hóa và văn hóa châu Á trong 2.500 năm.[7] Từ lâu, nơi này đã giúp kết nối Đông Nam Á và tiểu lục địa Ấn Độ.[8]

Dưới sự cai trị của người Anh, vương quốc Manipur trên danh nghĩa là một hoàng quốc (princely state).[9] Từ năm 1917 và 1939, người dân Manipur đấu tranh giành quyền lợi cho mình chống lại người Anh. Tới cuối thập niên 1930, vương quốc Manipur thương lượng với người Anh để trở thành một phần của Ấn Độ, hơn là Myanmar. Những đàm phán này bị gián đoạn bởi sự bùng nổ của Thế Chiến thứ II. Ngày 21 tháng 9, 1949, Maharaja Budhachandra ký hiệp ước Accession để hợp nhất vương quốc vào Ấn Độ.[10] Sự hợp nhất này gây nhiều tranh luận tại Manipur, vì được cho là xảy ra khi chưa có sự nhất trí và dưới sự ép buộc.[11] Những tranh luận và sự khác biệt về quan điểm cho tương lai đã gây ra cuộc nổi dậy kéo dài 50 năm tại đây để giành độc lập khỏi Ấn Độ, kèo theo đó là những xung đột liên miên giữa các dân tộc.[12] Từ năm 2010 đến 2013, xung đột quân sự chịu trách nhiệm cho cái chết của chừng 1 trên 100.000 người mỗi năm.[13]

Dân tộc Meitei,[14] chiếm 53% dân số toàn bang Manipur. Ngôn ngữ chính là tiếng Meitei (còn gọi là tiếng Manipur). Những bộ tộc bản địa chiếm 20% of dân số. Các dân tộc tại Manipur theo nhiều tôn giáo khác nhau.[15] Theo thống kê 2011, Ấn Độ giáo là tôn giáo lớn nhất, tiếp theo là Kitô giáo. Những tôn giáo khác gồm Hồi giáo, Sanamahi giáo, và Phật giáo.[15][16]

Manipur có một nền kinh tế nông nghiệp, với tiềm năng thủy điện lớn. Việc giao thương được thúc đẩy bởi những chuyến bay ra vào sân bay Imphal, sân bay lớn thứ nhì Đông Bắc Ấn Độ.[17] Manipur là nơi bắt nguồn của môn nhảy Manipur,[18] và được xem là nơi đã giới thiệu môn polo đến người châu Âu.[19]




  1. ^ Iboyaima Laithangbam (30 tháng 9 năm 2015). “Shanmuganathan sworn in as Manipur Governor”. The Hindu. 

  2. ^ BJP leader Biren Singh sworn in as Manipur Chief Minister, India Today (March 15 2017)

  3. ^ “Manipur Population Sex Ratio in Manipur Literacy rate data”. census2011.co.in. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 

  4. ^ “At a Glance « Official website of Manipur”. 

  5. ^ Abstract of speakers' strength of languages and mother tongues – 2000, Census of India, 2001

  6. ^ Manipur: Treatise & Documents, Volume 1, ISBN 978-8170993995, Introduction

  7. ^ Naorem Sanajaoba (editor), Manipur, Past and Present: The Heritage and Ordeals of a Civilization, Volume 4, Chapter 1: NK Singh, ISBN 978-8170998532

  8. ^ Naorem Sanajaoba (editor), Manipur, Past and Present: The Heritage and Ordeals of a Civilization, Volume 4, Chapter 4: K Murari, ISBN 978-8170998532

  9. ^ Naorem Sanajaoba (Editor), Manipur, Past and Present: The Heritage and Ordeals of a Civilization, Volume 4, Chapter 2: NT Singh, ISBN 978-8170998532

  10. ^ K.R. Dikshit; Jutta K Dikshit (2013). North-East India: Land, People and Economy. Springer Science. tr. 56. ISBN 978-94-007-7055-3. 

  11. ^ Kalpana Kannabiran; Ranbir Singh (2008). Challenging The Rules(s) of Law. SAGE Publications. tr. 264. ISBN 978-81-321-0027-0. 

  12. ^ "Background: Conflict in Manipur" Human Rights Watch (2008)

  13. ^ State wise Indian fatalities, 1994-2013 Militancy and Terrorism Database, SATP, New Delhi

  14. ^ Khomdan Singh Lisam, Encyclopaedia Of Manipur, ISBN 978-8178358642, pp. 322–347

  15. ^ a ă “Population by religion community - 2011”. Census of India, 2011. The Registrar General & Census Commissioner, India. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2015. 

  16. ^ http://www.hueiyenlanpao.com/page/items/34799/religious-landscape-in-manipur

  17. ^ “Transportation of Manipur”. investinmanipur.nic.in. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 

  18. ^ Reginald Massey (2004). India's Dances: Their History, Technique, and Repertoire. Abhinav. tr. 177–184. ISBN 978-81-7017-434-9. 

  19. ^ Lieutenant (later Major General) Joseph Ford Sherer, Assistant to the Superintendent of Cachar, with his bearers, Manipur, 1861 National Army Museum, United Kingdom; Journal of the Society for Army Historical Research, Volume 82, Issues 337–340, page 238


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Diêm Đình – Wikipedia tiếng Việt

Diêm Đình chữ Hán giản thể: 盐亭县, Hán Việt: Diêm Đình huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Huyện này có diện tích 1.645 km², dân số năm 2002 là 590.000 người. Diêm Đình được chia thành 14 trấn, 21 hương và 1 hương dân tộc. Trấn: Vân Khê, Phú Dịch, Ngọc Long, Kim Khổng, Lưỡng Hà, Hoàng Điền, Bách Tử, Bát Giác, Hắc Bình, Cao Đăng, Kim Kê, An Gia, Lâm Nông, Cự Long. Hương: Long Tuyền, Chiết Cung, Ma Ương, Phùng Hà, Thạch Ngưu Miếu, Tông Hải, Lưỡng Xoá Hà, Lâm Sơn, Tân Nông, Tam Nguyên, Ngũ Long, Trà Đình, Kim An, Tẩy Trạch, Mao Công, Kiếm Hà, Lai Long, Vĩnh Thái, Hoàng Khê, Cử Khê, Song Bài. Hương dân tộc Hồi Đại Hưng.

Cầu Øresund – Wikipedia tiếng Việt

Cầu Oresund nối vào đảo nhân tạo Peberholm, ảnh chụp từ trên không Hình chụp từ vệ tinh nhân tạo Cầu Øresund , Öresund hay Oresund (tiếng Đan Mạch: Øresundsbroen ; tiếng Thụy Điển: Öresundsbron ) là một trong ba khâu nối giao thông cố định ( fixed link ) từ đảo Amager (Đan Mạch) qua Eo biển Oresund tới Malmö (nam Thụy Điển). Hai khâu kia là đảo nhân tạo Peberholm và 4 đường hầm từ Amager (Đan Mạch) tới đảo nhân tạo này. Tổng chiều dài của ba khâu này là 15,9 km. Vì đường nối giao thông cố định này gồm ba khâu, nên Đan Mạch thường dùng từ Øresundsforbindelsen và Thụy Điển dùng từ Öresundsförbindelsen. Cùng với cầu Lillebælt và cầu Storebælt, cầu Oresund đã nối giao thông cố định giữa vùng tây lục địa châu Âu với vùng bắc bán đảo Scandinavia, cuối cùng nối liền mọi phần đất của Liên minh châu Âu, ngoại trừ Ireland, Malta và Kypros cùng các đảo nằm ngoài lục địa. Cầu Oresund được xây dựng trên các cột và một nhịp chính bằng cột treo dây néo chéo ( cable-stayed bridge ). Nhịp tre...

Kim Trại – Wikipedia tiếng Việt

Kim Trại (chữ Hán giản thể: 金寨县, Hán Việt: Kim Trại huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Lục An, tỉnh An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 3667km2, dân số 640.000 người. Mã số bưu chính của Kim Trại là 237300. Kim Trại được mệnh danh là cái nôi của tướng quân với tổng cộng 59 vị. Huyện Kim Trại được thành lập năm 1932 với tên ban đầu là huyện Lập Hoàng theo tên của tướng lĩnh Quốc dân đảng Vệ Lập Hoàng. Tháng 9 năm 1947 đại quân của Lưu Đặng đánh chiếm thành Kim Gia Trại của huyện và đổi tên là huyện Kim Trại. Về mặt hành chính, quận này được chia thành 9 trấn, 10 hương. Huyện lỵ đóng tại trấn Mai Sơn. Trấn: Mai Sơn, Thanh Sơn, Giang Điếm, Cổ Bi, Nam Khê, Yến Tử Hà, Hưởng Hồng Miếu, Ban Trúc Viên, Thang Gia Hối. Hương: Song Hà, Quan Miếu, Hồng Xung, Thiết Xung, Toàn Quân, Trương Phán, Sa Hà, Trương Xung, Trường Lĩnh, Đào Lĩnh, Hoa Thạch.