Chuyển đến nội dung chính

Thuận Thiên (kiếm) – Wikipedia tiếng Việt



Tượng Lê Lợi với thanh kiếm Thuận Thiên trước trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố Thanh Hoá


Thuận Thiên kiếm (chữ Hán: 順天劍[1]) hay kiếm thần Thuận Thiên là thanh kiếm huyền thoại của vua Lê Lợi, anh hùng dân tộc Việt, người đã đem lại độc lập cho Việt Nam từ ách cai trị của nhà Minh phương Bắc. Được cho là có ẩn chứa một sức mạnh thần kỳ, giúp cho Lê Lợi trở nên cao lớn và có sức mạnh của vạn người. Thanh kiếm xuất hiện trong huyền thoại về Lê Lợi rất sớm.





Thuận Thiên có nghĩa là thuận theo ý trời. Ý nghĩa của nó là khẳng định cuộc khởi nghĩa chống nhà Minh của Lê Lợi là thuận theo ý trời.



Vào thời gian nhà Minh chiếm đóng Đại Việt, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn, Thanh Hóa chống nhà Minh. Buổi đầu thế lực nghĩa quân còn non yếu, trước thế mạnh và khả năng tổ chức tốt của quân đội nhà Minh nên Lê Lợi nhiều lần thất bại.

Thấy vậy, Đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc. Thanh kiếm không đến thẳng với Lê Lợi mà nó được chia làm hai phần: một lưỡi kiếm và một chuôi kiếm.

Đầu tiên, ở Thanh Hóa, có một ngư dân tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Lê Thận đánh cá, anh thả lưới ở một bến vắng. Trong một lần kéo lưới, tự nhiên Thận cảm thấy nằng nặng, trong lòng vui mừng thầm vì tưởng phen này bắt được có cá to. Nhưng khi thò tay lấy cá, Thận nhận ra rằng đó chỉ là một thanh sắt. Thận tiện tay vứt luôn thanh sắt đó xuống nước rồi, đi thuyền thả lưới ở một chỗ khác. Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng, nhưng lại là thanh sắt mà anh đã ném đi kia. Thận tiếp tục ném thanh sắt xuống sông lần hai. Nhưng thanh sắt ấy lại vẫn tiếp tục mắc vào lưới lần thứ ba. Lấy làm lạ, Thận ghé mồi lửa soi để nhìn xem, anh reo lên một mình:


Ha ha! Một lưỡi gươm!

Lê Thận về sau gia nhập quân khởi nghĩa Lam Sơn. Vì lòng dũng cảm của mình, Thận nhanh chóng thăng tiến trong hàng ngũ nghĩa quân. Một hôm, Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận.Nhà Thận vốn tối om om, bỗng lưỡi gươm hôm đó chợt sáng rực lên soi sáng cả xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi tiến đến gần cầm lấy xem và nhận ra có hai chữ "Thuận Thiên" (chữ Hán: 順天) khắc sâu vào trong lưỡi. Song tất cả mọi người vẫn chưa nhận ra đó là báu vật. Một hôm lại bị quân Minh truy đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. Ông tò mò, liền xuống ngựa trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Chợt nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi liền rút lấy chuôi giắt vào lưng. Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các tùy tùng, thuộc tướng gồm cả Lê Thận. Ông lấy lưỡi ra tra thử với gươm, khi lắp lưỡi vào với chuôi thì kỳ lạ thay, vừa khớp nhau. Lê Lợi kể lại câu chuyện, mọi người nghe xong đều hồ hởi vui mừng. Lê Thận hai tay nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi:


Đây là thần có ý phó thác cho "minh công" làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương da của mình theo "minh công" và thanh gươm thần này để báo đền xã tắc!.

Thanh gươm thần với một sức mạnh lạ kỳ giúp Lê Lợi đánh tràn ra, liên tiếp thắng quân Minh và làm quân Minh kiếp đảm, sau cùng là chiến thắng quân Minh, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi nước Việt. Mấy năm sau, Lê Lợi lên ngôi vua lập ra nhà Lê. Một ngày nọ nhà vua đem gươm thần ngồi thuyền rồng dạo chơi trên hồ Tả Vọng, Thăng long. Bỗng nhiên thanh gươm thần động đậy và có một con rùa vàng chặn lối, nó nổi lên và nói:


Bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Nghe thế nhà vua hiểu ra, nhà vua bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát, thanh gươm thần tự bay về phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa liền ngước đầu lên, há miệng nhận lấy thanh gươm. Cho đến khi rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dưới mặt nước hồ xanh. Khi những chiếc thuyền của bá quan tùy tùng đuổi lên kịp thuyền rồng thì vua nói với họ:


Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, người sai rùa lấy lại.

Và từ đó không ai thấy lại thanh gươm thần nữa [2].



Thanh kiếm Thuận Thiên của Lê Lợi và Excalibur của vua Arthur nước Anh có nhiều điểm tương đồng. Cùng tượng trưng cho quyền và tính hợp pháp của nhà vua tương lai, cùng được một sinh vật sống dưới nước trao tặng, cùng quay trở về nơi nó xuất phát sau khi đã giúp người được trao tặng hoàn thành mục đích của mình.[cần dẫn nguồn]





  • Nguyễn Hài, Trọng Viêm, Nguyên Cang và Sương Huyền, Lê Thế Ngọc Phả, ở Tiết 7, chương thứ nhất Vua được gươm thần bằng Hán văn.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Diêm Đình – Wikipedia tiếng Việt

Diêm Đình chữ Hán giản thể: 盐亭县, Hán Việt: Diêm Đình huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Huyện này có diện tích 1.645 km², dân số năm 2002 là 590.000 người. Diêm Đình được chia thành 14 trấn, 21 hương và 1 hương dân tộc. Trấn: Vân Khê, Phú Dịch, Ngọc Long, Kim Khổng, Lưỡng Hà, Hoàng Điền, Bách Tử, Bát Giác, Hắc Bình, Cao Đăng, Kim Kê, An Gia, Lâm Nông, Cự Long. Hương: Long Tuyền, Chiết Cung, Ma Ương, Phùng Hà, Thạch Ngưu Miếu, Tông Hải, Lưỡng Xoá Hà, Lâm Sơn, Tân Nông, Tam Nguyên, Ngũ Long, Trà Đình, Kim An, Tẩy Trạch, Mao Công, Kiếm Hà, Lai Long, Vĩnh Thái, Hoàng Khê, Cử Khê, Song Bài. Hương dân tộc Hồi Đại Hưng.

Dặc Giang – Wikipedia tiếng Việt

Dặc Giang (chữ Hán giản thể:弋江区, Hán Việt: Dặc Giang khu ) là một quận thuộc địa cấp thị Vu Hồ, tỉnh An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận Dặc Giang có diện tích 64 km2, dân số năm 2001 là 125.000 người. Về mặt hành chính, quận Dặc Giang được chia thành 4 nhai đạo biện sự xứ: Lỗ Cảng Lưỡng Trấn và Dặc Giang Kiều, Trung Sơn Nam Lộ, Lợi Dân Lộ, Nam Thuỵ. x t s An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lịch sử • Chính trị • Kinh tế Hợp Phì Lư Dương  • Dao Hải  • Thục Sơn  • Bao Hà  • Sào Hồ  • Trường Phong  • Phì Đông  • Phì Tây  • Lư Giang Vu Hồ Kính Hồ  • Tam Sơn  • Cưu Giang  • Dặc Giang  • Vu Hồ  • Phồn Xương  • Nam Lăng  • Vô Vi Bạng Phụ Bạng Sơn  • Long Tử Hồ  • Vũ Hội  • Hoài Thượng  • Hoài Viễn  • Ngũ Hà  • Cố Trấn Hoài Nam Điền Gia Am  • Đại Thông  • Tạ Gia Tập  • Bát Công Sơn  • Phan Tập  • Phượng Đài  • Thọ Mã An Sơn Vũ Sơn  • Hoa Sơn  • Bác Vọng  • Đang Đồ  • Hàm Sơn  • Hòa Hoài Bắc Tương Sơn  • Đỗ Tập  • Liệt Sơn  • Tuy Khê Đồng Lăng Đồng Qua...

1777 – Wikipedia tiếng Việt

Thiên niên kỷ: thiên niên kỷ 2 Thế kỷ: thế kỷ 17 thế kỷ 18 thế kỷ 19 Thập niên: thập niên 1750 thập niên 1760 thập niên 1770 thập niên 1780 thập niên 1790 Năm: 1774 1775 1776 1777 1778 1779 1780 1777 trong lịch khác Lịch Gregory 1777 MDCCLXXVII Ab urbe condita 2530 Năm niên hiệu Anh 17 Geo. 3 – 18 Geo. 3 Lịch Armenia 1226 ԹՎ ՌՄԻԶ Lịch Assyria 6527 Lịch Ấn Độ giáo  - Vikram Samvat 1833–1834  - Shaka Samvat 1699–1700  - Kali Yuga 4878–4879 Lịch Bahá’í -67 – -66 Lịch Bengal 1184 Lịch Berber 2727 Can Chi Bính Thân (丙申年) 4473 hoặc 4413      — đến — Đinh Dậu (丁酉年) 4474 hoặc 4414 Lịch Chủ thể N/A Lịch Copt 1493–1494 Lịch Dân Quốc 135 trước Dân Quốc 民前135年 Lịch Do Thái 5537–5538 Lịch Đông La Mã 7285–7286 Lịch Ethiopia 1769–1770 Lịch Holocen 11777 Lịch Hồi giáo 1190–1191 Lịch Igbo 777–778 Lịch Iran 1155–1156 Lịch Julius theo lịch Gregory trừ 11 ngày Lịch Myanma 1139 Lịch Nhật Bản An Vĩnh 6 (安永6年) Phật lịch 2321 Dương lịch Thái 2320 Lịch Triều Tiên 4110 Hộp này: xem thảo luận sửa 1777 ( MDCCLXX...