Chuyển đến nội dung chính

Đảng phái chính trị – Wikipedia tiếng Việt



Đảng phái chính trị hay chính đảng (thường gọi tắt là đảng) là tổ chức chính trị tự nguyện với mục tiêu đấu tranh để tham gia vào việc thể hiện các quan điểm chính trị, đấu tranh để giành quyền đại diện cho người dân trong quốc hội, hoặc để đạt được một quyền lực chính trị nhất định trong chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch bầu cử. Các đảng thường có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ. Các đảng thường có mục tiêu thực hiện nhiệm vụ, lý tưởng của tầng lớp, giai cấp, quốc gia để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp, giai cấp hay quốc gia đó.





Đảng viên là tên gọi thành viên một đảng phái chính trị nào đó.


Đảng viên ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]


Ở Việt Nam, từ "Đảng viên" được mặc định hiểu là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam do chỉ có Đảng cộng sản tồn tại hợp pháp và lãnh đạo Việt Nam theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Trước đây vào Đảng là yếu tố then chốt của việc vào được Quốc hội và 100% thành viên trong Quốc hội là Đảng viên, nhưng sau này đã có một số cải cách tiến bộ trong đó:


  • Đảng viên được làm kinh tế tư nhân (trước kia đây là điều cấm kị, nếu làm sai có thể khai trừ khỏi đảng cộng sản vì Đảng Cộng sản là chống tư hữu, quan niệm làm kinh tế tư nhân là theo con đường tư sản).

  • Có thể tự ứng cử vào Quốc hội khi đủ 21 tuổi nếu được tổ chức Đảng cấp trên đồng ý (trước đây thường là có người đề đạt mới được ứng cử)

  • Không phải vào Đảng cũng có thể tham gia vào Quốc hội.

Thời thuộc Pháp có một số đảng như: Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng Đại Việt, An Nam Cộng sản Đảng, Tân Việt Cách mạng Đảng.

Ở miền Bắc Việt Nam dân chủ Cộng hòa có Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam, Đông Dương Cộng sản Đảng., Đông Dương Cộng sản Liên đoàn...

Ở miền Nam Việt Nam Cộng Hòa có Đảng Cần lao Nhân vị, Đảng Dân chủ...

Hiện nay tại Việt Nam chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản hoạt động.

Các chính đảng còn lại như: Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng, Đảng Nhân dân Hành động Việt Nam, Đảng Dân tộc Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Đảng Vì Dân Việt Nam, Đảng Dân Chủ Việt Nam thế kỷ 21, Đảng Thịnh Vượng Việt Nam, Đảng Đại Dân tộc Việt Nam, Đảng Xanh Việt Nam, Đảng Người Việt Yêu Người Việt... hầu hết hoạt động tại hải ngoại vì chính quyền Việt Nam cấm hoạt động trong nước










Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Diêm Đình – Wikipedia tiếng Việt

Diêm Đình chữ Hán giản thể: 盐亭县, Hán Việt: Diêm Đình huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Miên Dương, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Huyện này có diện tích 1.645 km², dân số năm 2002 là 590.000 người. Diêm Đình được chia thành 14 trấn, 21 hương và 1 hương dân tộc. Trấn: Vân Khê, Phú Dịch, Ngọc Long, Kim Khổng, Lưỡng Hà, Hoàng Điền, Bách Tử, Bát Giác, Hắc Bình, Cao Đăng, Kim Kê, An Gia, Lâm Nông, Cự Long. Hương: Long Tuyền, Chiết Cung, Ma Ương, Phùng Hà, Thạch Ngưu Miếu, Tông Hải, Lưỡng Xoá Hà, Lâm Sơn, Tân Nông, Tam Nguyên, Ngũ Long, Trà Đình, Kim An, Tẩy Trạch, Mao Công, Kiếm Hà, Lai Long, Vĩnh Thái, Hoàng Khê, Cử Khê, Song Bài. Hương dân tộc Hồi Đại Hưng.

Kim Trại – Wikipedia tiếng Việt

Kim Trại (chữ Hán giản thể: 金寨县, Hán Việt: Kim Trại huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Lục An, tỉnh An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 3667km2, dân số 640.000 người. Mã số bưu chính của Kim Trại là 237300. Kim Trại được mệnh danh là cái nôi của tướng quân với tổng cộng 59 vị. Huyện Kim Trại được thành lập năm 1932 với tên ban đầu là huyện Lập Hoàng theo tên của tướng lĩnh Quốc dân đảng Vệ Lập Hoàng. Tháng 9 năm 1947 đại quân của Lưu Đặng đánh chiếm thành Kim Gia Trại của huyện và đổi tên là huyện Kim Trại. Về mặt hành chính, quận này được chia thành 9 trấn, 10 hương. Huyện lỵ đóng tại trấn Mai Sơn. Trấn: Mai Sơn, Thanh Sơn, Giang Điếm, Cổ Bi, Nam Khê, Yến Tử Hà, Hưởng Hồng Miếu, Ban Trúc Viên, Thang Gia Hối. Hương: Song Hà, Quan Miếu, Hồng Xung, Thiết Xung, Toàn Quân, Trương Phán, Sa Hà, Trương Xung, Trường Lĩnh, Đào Lĩnh, Hoa Thạch.

Bồng Khê, Toại Ninh – Wikipedia tiếng Việt

Bồng Khê (chữ Hán giản thể: 蓬溪县, Hán Việt: Bồng Khê huyện ) là một huyện thuộc địa cấp thị Toại Ninh, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Huyện này có diện tích 1251 km2, dân số năm 2002 là 750.000 người. Bồng Khê được chia thành 16 trấn và 15 hương. Trấn: Xích Thành, Thiên Phúc, Hồng Giang, Bồng Nam, Minh Phượng, Trách Long, Tam Phượng, Đại Thạch, Thường Lạc, Minh Nguyệt, Cát Tường, Tân Hộ, Văn Tỉnh, Cao Bình, Quần Lợi, Bảo Phạm. Hương: Tân Tinh, Bản Kiều, Hoè Hoa, Hoàng Nê, Quần Lực, Cao Thăng, Hồi Thuỷ, Tân Thắng, Kim Long, Hà Diệp, Nông Hưng, Hạ Đông, La Qua, Cát Tinh, Kim Kiều.